Đau Nhức Cánh Tay

From Viet Y Hoc Wiki

Jump to: navigation, search

Những thành phần của cánh tay, từ vai đến bàn tay, gồm có:

  1. Xương.
  2. Các bắp thịt.
  3. Gân: Gân là lớp mô sơ ở dưới da hoặc bao quanh các bắp thịt.
  4. Dây chằng: Dây chằng là những sợi dây sơ từ các bắp thịt bám dính vào các xương, dự phần vào việc cử động.
  5. Túi thanh mạc: Túi thanh mạc là một cấu trúc nằm ở giữa xương và dây chằng, làm giảm bớt sự ma xát ở xương khi bắp thịt co giãn.
  6. Dây thần kinh: Những dây thần kinh ở cánh tay xuất phát từ cột sống cổ, dẫn luồng thần kinh vận động đến các bắp thịt và truyền cảm giác từ cánh tay lên não bộ.
  7. Mạch máu.
  8. Hệ thống bạch huyết: hệ thống mạch cần thiết cho việc lưu thông dịch bạch huyết.
  9. Các khớp (khớp vai, khớp cùi chỏ, khớp cổ tay, các khớp ở các ngón tay).

Tất cả những cấu trúc trên, khi bị tổn thương và bị viêm, đều có thể gây đau nhức.

Contents

Nguyên nhân:

  1. Bệnh hay Chấn thương ở Khớp xương: Khớp xương có thể bị
    • Nhiễm trùng: nhiễm vi trùng, nhiễm siêu vi trùng, nhiễm vi khuẩn hay nhiễm nấm.
    • Viêm: như bệnh Viêm Khớp dạng Thấp, Viêm Khớp do Bệnh Vẩy Nến, Bệnh Sốt Thấp Khớp, vv.
    • Thoái hoá: Ở người trẻ, khớp có thể thoái hoá sau khi bị chấn thương. Khớp cũng có thể tự nhiên bị thoái hoá ở tuổi già. Hiện tượng thoái hoá gây tổn hại cho các cấu trúc của khớp.
    • Chấn thương: Chấn thương ở khớp có thể làm hư hại những cấu trúc của khớp (như rách dây chằng của bắp thịt), và khiến cho khớp bị viêm.

      Khi khớp bị viêm vì bất cứ nguyên nhân nào, chứng đau nhức gia tăng khi khớp vận chuyển, và tầm vận chuyển của khớp bị giới hạn.

  2. Bệnh hay chấn thương ở Xương: Xương có thể bị
    • Nhiễm trùng
    • Gảy xương
    • U bướu

      Bệnh nhiễm trùng thường gây nóng sốt. Gảy xương thường gây đau nhức dữ dội sau khi bị xương bị chấn thương. Ung thư thường xuất phát từ những xương dài ở cánh tay. Khi u bướu bắt đầu xuất phát ở xương, người bệnh có thể chỉ bị chứng đau nhức và không có biểu hiệu nào khác. Bướu xương có thể xuất phát từ xương, hay từ một bướu độc (ung thư) ở một cơ quan khác di căng đến. Chụp hình X-quang, CT hay MR trong thời kỳ này mới có thể chẩn đoán được bướu xương.

  3. Bệnh hay Chấn thương ở Bắp thịt, Dây chằng, hay Gân bao chung quanh bắp thịt: Bắp thịt, dây chằng và gân có thể bị
    • Viêm
    • Chấn thương
    • Nhiễm trùng

      Chứng đau nhức trong những trường hợp này gia tăng khi người bệnh sử dụng bắt thịt bị bệnh.

  4. Viêm Túi Thanh Mạc: Túi thanh mạc có thể bị viêm và gây đau nhức. Khi lấy tay đè ngay vào túi bị viêm thì chứng đau nhức gia tăng gắp bội.
  5. Bệnh hay Chèn ép Dây thần kinh:
    • Dây thần kinh rễ ở cột sống cổ: Khi dây thần kinh bị chèn ép (như trong trường hợp thoái hoá cột sống, gai xương, lồi điã sụn, v.v.), người bị có thể bị đau nhức ở cổ, vai và chứng đau nhức chạy dài xuống cánh tay. Chứng đau nhức thường kèm theo chứng tê, rần, giảm sức lực và có thể teo bắp thịt.
    • Đám Dây thần kinh ở vai: Những dây thần kinh xuất phát từ cột sống cổ tụ hợp lại với nhau rồi chia ra thành nhiều dây thần kinh đặc biệt đi đến các vùng ở cánh tay. Ở vùng vai, đám dây thần kinh này có thể bị viêm hoặc bị chén ép, và do đó gây chứng đau nhức ở vai và cánh tay.
    • Dây thần kinh ở cánh tay, cổ tay, bàn tay: Những dây thần kinh chạy dọc theo cánh tay và bàn tay có thể bị viêm hoặc bị chèn ép. Đặc biệt là dây thần kinh Trụ ở cùi chỏ, dây thần kinh Giữa ở cổ tay thường bị kẹt và bị chèn ép, khiến cho bán tay bị tê, rần, yếu và đau nhức. “Hội chứng Đường hầm Cô tay” là từ ngữ thường dùng đế chỉ chứng chép ép dây thần kinh Giữa ở cổ tay.
    • Đau dây thần kinh do bệnh Tiểu Đường: Bệnh Tiểu đường có thể gây tổn thương cho dây thần kinh, khiến cho tay chân bị đau nhức.
  6. Bệnh Mạch máu:
    • Động mạch: Một số bệnh có thể gây cho các động mạch ở tay bị teo hẹp hay tắc nghẽn, gâyl giảm thiểu lưu thông máu ở cánh tay và bàn tay. Ngoài chứng đau nhức, cánh tay và bàn tay còn có thể bị tê, lạnh, và da bị tái, tím.
    • Tĩnh mạch: Tĩnh mạch ở cánh tay có thể bị đóng máu cục, khiến cho cánh tay bị sưng và đau nhức. Hiện tượng này thường xảy ra ở chân, nhưng cũng có thể ở cánh tay, trong những trường hợp tĩnh mạch bị chấn thương hay trong một số bệnh đông máu.
  7. Hệ thống bạch huyết: Khi hệ thống bạch huyết bị tắt nghẽn, cánh tay bị sưng lên và đau nhức. Hiện tượng này có thể xảy ra trong những bệnh ung thư hay sau khi xạ trị.
  8. Cơn Đau tim do tắc nghẽn mạch máu tim: Một số trường hợp tắt nghẽn mạch máu tim gây đau nhức ở cổ, vai và cánh tay, nhưng lại không gây đau nhói ở vùng tim. Vì thế, khi những người có nguy cơ bị bệnh tắt nghẽn mạch máu tim bị đau nhức ở vai và cánh tay, bác sĩ thường làm những khám nghiệm để biết có phải cho nghẽn mạch máu tim hay không.

Chẩn đoán:

Việc chẩn đoán để biết chứng đau nhức do phần nào của cánh tay gây nên và do bệnh gì cần đến khám lâm sàng (bằng cách quan sát, sờ, nắn, bóp, v.v.) và có thể cũng cần đến một số xét nghiệm như chụp hình, đo Điện Cơ đồ, v.v.

  1. Phương pháp Lâm sàng: Khi bóp nhẹ vào cấu trúc bị viêm, chứng đau nhức sẽ gia tăng. Phương pháp khám bằng cách nắn, bóp có thể giúp định được cấu trúc nào bị bệnh trong nhiều trường hợp. Khi người bệnh co, duỗi cánh tay hay bàn tay, những bắp thịt, dây chằng hay gân bị viêm sẽ bị chuyển động và sẽ làm cho chứng đau nhức gia tăng. Khớp xương bị viêm hay chấn thương thường bị giới hạn trong tầm vận động và sẽ đau nhiều hơn nếu vận động quá mức chịu đựng.
  2. Chụp hình: Chụp X-quang có thể cho thấy chổ xương bị gãy. Chụp hình MR có thể cho thấy những nơi trong khớp xương bị hư hại hay thoái hoá.
  3. Điện cơ ký và Đo tốc độ vận chuyển dây thần kinh: Khi dây thần kinh bị tổn thương hay bị chèn ép, những xét nghiệm này cho thấy những thay đổi bất thường ở bắp thịt và ở dây thần kinh. Hai phương pháp này có thể giúp biết khá chính xác dây thần kinh nào bị tổn thương.
  4. Siêu âm, Đông mạch ký và Tĩnh mạch ký: Những phương pháp này giúp chẩn đoán bệnh mạch máu và hệ bách huyết.
  5. Xét nghiệm máu: Một số bệnh Viêm cần đến những xét nghiệm máu đặc biệt để định bệnh.
  6. Xét nghiệm dịch khớp xương: Bệnh Viêm khớp Gút cần đến xét nghiệm dịch khớp xương để chẩn đoán chính xác. Bệnh nhiễm trùng cũng có thể cần đến rút dịch hay mủ để xét nghiệm dưới kính hiển vi và cấy vi trùng.
  7. Sinh thiết: giúp phân loại những bệnh u bướu và một số trường hợp thoái hoá/viêm khớp xương.
  8. Điện Tâm ký, Động mạch ký, đo lượng Men tim: Những xét nghiệm này cần thiết để chẩn đoán bệnh tắt nghẽn mạch máu tim.

Điều trị:

  1. Những trường hợp chấn thương hay viêm gây đau nhức nhẹ có thể thuyên giảm sau khi dùng thuốc giảm đau như acetaminophen (gọi là paracetamol ở Việt Nam), hoặc thuốc chống viêm không có chất steroid, như ibuprofen, naproxen, aspirin, v.v.
  2. Viêm ở dây chằng, ở khớp, nếu không do nhiễm trùng, có thể được điều trị hữu hiệu bằng cách tiêm thuốc steroid ở chổ bị viêm.
  3. Những bệnh Viêm như Gút, Viêm Khớp dạng Thấp, v.v. cần đến những thứ thuốc đặc biệt để điều trị tuỳ theo loại bệnh.
  4. Giải phẫu:
    1. Xương gãy cần được giữ bất động cho đến khi lành. Những trường hợp gãy thành nhiều mãnh có thể cần được giải phẫu. Chấn thương hay thoái hoá nặng ở khớp có thể cần được giải phẫu.
    2. Những trường hợp dây thần kinh bị chèn ép có thể trị bằng thuốc chống viêm và vật lý trị pháp. Nếu bệnh không thuyên giảm, cơn đau trầm trọng khiến người bệnh không thể làm việc và không thể ngủ được, và nhất là nếu có thêm những triệu chứng chèn ép dây thần kinh, như yếu vận động bắp thịt và mất cảm giác, giải phẫu cần được thực hiện đến để dây thần kinh không còn bị chèn ép.
    3. Những bệnh u bướu thường cần đến giải phẫu và cũng có thể cần đến xạ trị và hoá trị.
  5. Những bệnh tắt nghẽn mạch máu và hệ bạch huyết cần đến những phương pháp điều trị đặc biệt để gia tăng sự lưu thông của máu và bạch huyết.
  6. Bệnh tắt nghẽn mạch máu tim cần dùng đến thuốc giúp giãn động mạch tim để máu lưu thông trở lại và có thể cần đến thông tim hoặc giải phẫu tim.

Tự vựng:

Bệnh Sốt Thấp Khớp (rheumatic fever)

Cơn đau tim do tắc nghẽn mạch máu (heart attack)

Dây chằng (ligament)

Dây thần kinh (nerve)

Dây thần kinh Giữa (median nerve)

Dây thần kinh Trụ (ulnar nerve)

Điện cơ ký (electromyography, EMG)

Đo tốc độ vận chuyển dây thần kinh (nerve conduction velocity test)

Hệ thống bạch huyết (lymphatic system)

Hoá trị (chemotherapy)

Lớp gân bao chung quanh các bắp thịt (fascia)

Men tim (cardiac enzyme)

Nhiễm trùng (infection)

Thông tim (cardiac angioplasty)

Túi thanh mạc (bursa)

Vật lý trị pháp (physical therapy)

Viêm (inflammation)

Viêm Khớp dạng Thấp (rheumatoid arthritis)

Viêm Khớp do Bệnh Vẩy Nến (psoriatic arthritis)

Xạ trị (radiation therapy)

Personal tools
Site Statistics